VNSpace-Hiện tại & Tương lai

Công nghệ hàng không vũ trụ-vũ khí và chiến lược quân sự- tin tức & sự kiện

Archive for the ‘Tin thế giới’ Category

Nga và Nhật nghiên cứu phóng tàu vũ trụ từ trên mặt biển

Đăng bởi Hoàng Phong on Tháng Tư 28, 2008

Phóng tàu vũ trụ con thoi từ một loại thủy phi cơ hai thân bay với vận tốc 600 km/h bên trên mặt biển, tàu vũ trụ được xuất phát theo chiều ngang cùng chiều với thủy phi cơ. Đó là ý tưởng táo bạo của các kỹ sư người Nga và Nhật.

Trong khi các nhà nghiên cứu Mỹ đang ra sức hoàn thiện những loại máy bay – vũ trụ (những loại máy bay được chế tạo như mô hình tàu vũ trụ có tốc đọ bay siêu âm) một tầng, có thể dùng lại nhiều lần theo kiểu tàu con thoi, thì nhiều nhà nghiên cứu Nga và Nhật Bản lại tìm cách làm sao bứt các tàu con thoi của họ khỏi lực hút Trái đất một cách hiệu quả nhất và ít tốn kém hơn. Thực vậy, như chúng ta đã biết, vị trí thuận lợi nhất để phóng các con tàu vũ trụ là trên đường xích đạo, vì tại đó các tàu vũ trụ sẽ tận dụng được tối đa lực văng ra tự nhiên sinh ra do sự quay của Trái đất. Thế mà không giống như châu Âu có những lãnh thổ hải ngoại nằm trên đường xích đạo, ví dụ như Pháp có lãnh thổ Kourou và Guyane (nơi phóng các tên lửa Arian), Mỹ có Mũi Canaveral ở Florida, Nga và Nhật Bản không có lãnh thổ nào nằm trên đường xích đạo để từ đó phóng hay hạ cánh các tàu vũ trụ của họ. Đây cũng là một trong những lý do khiến các nhà nghiên cứu hai nước bắt tay vào nghiên cứu phương pháp phóng tàu vũ trụ này. Nhật Bản đang quan tâm hơn bao giờ hết đến chinh phục Vũ trụ. Còn người Nga lại là những chuyên gia hàng đầu về thủy phi cơ (loại máy bay có thể lướt trên mặt nước với tốc độ cao) từ những năm 60. Thực vậy, năm 1963 người Nga đã bí mật chế tạo chiếc thủy phi cơ KM (Korabl – Meket) mà tình báo quân sự Mỹ gọi là “Con quái vật của biển cả”, nặng 540 tấn, bay cách mặt nước vài mét với tốc độ 500km/h. Năm 1973, Hải quân Liên Xô lại có thêm chiếc thủy phi cơ Orlyonok, có thể lướt trên mặt biển với tốc độ 400km/h. Vài năm sau khi chiếc KM gặp nạn năm 1980, một loại thủy phi cơ nữa là Lun đã ra đời, nặng 400 tấn và được quân đội Liên Xô sử dụng để từ đó phóng các tên lửa.

Chính chiếc Lun này đã gợi cho các kỹ sư Nga, Alexander Nebylov và Victor Sokolov cùng hai kỹ sư Nhật Bản, Nobuyuki Tomita và Yoshiaki Ohkami, ý tưởng về một loại thủy phi cơ khổng lồ dùng làm nơi cất và hạ cánh các tàu vũ trụ con thoi. Đó sẽ là một chiếc thủy phi cơ hai thân được nối với nhau bởi một chiếc “cầu sân bay” diện tích 3.000m2, trên đó được phủ lớp chất chống nhiệt. Chiếc thủy phi cơ này sẽ được đẩy bởi từ 8 đến 10 mô tơ cực mạnh của máy bay (hiện đang được chế tạo tại Nga) cho phép nâng được một khối lượng 1.600 tấn, trong đó 800 tấn là trọng lượng của tàu vũ trụ, lên cách mặt biển vài mét và bay với tốc độ 600km/h. Khi chiếc thủy phi cơ chở chiếc tàu vũ trụ con thoi trên chiếc cầu của nó bay gần đạt vận tốc tối đa thì cũng là lúc con tàu vũ trụ này bắt đầu khởi động mô tơ của nó để chuẩn bị bứt ra khỏi chiếc thủy phi cơ. Lúc đầu tầu vũ trụ con thoi sẽ bay theo phương nằm ngang, nó bứt ra ở góc 150 , sau đó sẽ dần dần bay theo phương thẳng đứng với vận tốc 966km/h để thoát khỏi lực hút Trái đất.

Ưu điển của hình thức phóng tàu con thoi này là gì? Ưu điểm đầu tiên là tạo cho tàu con thoi một vận tốc ban đầu lớn và tiêu thụ nhiên liệu ít hơn. Trong hệ thống cất cánh truyền thống theo phương thẳng đứng, tên lửa đẩy cho tầu con thoi phải có khối lượng nhiên liệu rất lớn để có thể đưa được khối lượng lớn bứt ra khỏi bầu khí quyển. Còn trong trường hợp cất cánh theo phương nằm ngang trên một chiếc thủy phi cơ thì tầu con thoi khi cất cánh đã có sẵn một vận tốc ban đầu, do đó tiết kiệm được nhiên liệu mà tầu phải mang theo. Nên nhớ rằng lượng nhiên liệu tầu mang theo lớn hơn nhiều lượng nhiên liệu dùng cho tên lửa đẩy. Một ưu điểm nữa, địa điểm phóng tàu con thoi từ thủy phi cơ là bất kỳ nơi nào trên đường xích đạo trong vùng biển quốc tế, để tận dụng được đà văng tự nhiên do lực quay của Trái đất sinh ra. Khi sử dụng chiếc thủy phi cơ có cái lưng phẳng lớn này, người ta sẽ tận dụng được “Hiệu ứng mặt đất”, giống như một đệm khí: khi bay là là mặt nước thì bên dưới chiếc thủy phi cơ này không khí sẽ trở nên đặc hơn và tạo nên một đệm khí giúp đẩy nó bay lên, diện tích bề mặt gồm cánh và thân thủy phi cơ càng lớn thì lực đẩy của đệm khí càng mạnh. Điều này giải thích vì sao trong Chiến tranh Thế giới thứ II, nhiều phi công đã lợi dụng hiện tượng tự nhiên này trong trường hợp máy bay của họ bị hỏng một trong số các mô tơ, họ đã cho máy bay bay là là mặt nước để giúp tăng thêm lực đẩy cho báy bay, nhờ hiệu ứng đệm khí.

Bên cạnh những ưu điểm trên, các kỹ sư còn phải tính đến nhiều vấn đề như hạ tầng cơ sở cho loại thủy phi cơ này, nhất là để đối phó với vấn đề kỹ thuật và thời tiết. Chẳng hạn phải phối hợp nhịp nhàng giữa tốc độ của tàu con thoi và tốc độ của thủy phi cơ. Vấn đề hạ cánh là khó khăn nhất vì ngoài yêu cầu về tính chính xác thì thời tiết cũng phải thuận lợi.

Sciences et Avenir, 1/2005

Đăng trong Công nghệ mới, Tin thế giới, Tên lửa đẩy | Tagged: | Leave a Comment »

Thành tựu nghiên cứu vũ trụ của ấn Độ

Đăng bởi Hoàng Phong on Tháng Tư 28, 2008

Trên thực tế Chương trình Nghiên cứu Vũ trụ của ấn Độ đã được khởi động từ năm 1962 bằng Quyết định của Chính phủ về việc thành lập Uỷ ban Quốc gia ấn Độ về Nghiên cứu Vũ trụ (INCOSPAR), sau đổi thành Uỷ ban Vũ trụ (Space Commision) trực thuộc Nội các Chính phủ. Uỷ ban Vũ trụ (UBVT) có nhiệm vụ dự thảo Chính sách của Nhà nước ấn Độ về nghiên cứu vũ trụ., xét duyệt, thông qua và cấp kinh phí cho các chương trình nghiên cứu, có liên quan đến việc khai thác vũ trụ, kiểm tra tiến trình thực hiện các chương trình đã được thông qua.

Cơ quan Nghiên cứu Vũ trụ ấn Độ (Indian Space Researche Organization-ISRO) có trụ sở tại thành phố Bangalore (Bang Carnataka) có nhiệm vụ soạn thảo và thực hiện các chương trình, liên quan đến các nghiên cứu trong lĩnh vực vũ trụ, chế tạo và vận hành thiết bị bay vũ trụ, xử lý và nghiên cứu sử dụng thông tin tiếp nhận từ vệ tinh. ISRO có 8 phòng/ban trực thuộc, đó là:

1. Trung tâm Vũ trụ mang tên Vicram Sarabahay (VSSC), đóng tại thành phố Tiruvandrum), là Trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) đầu đàn của ISRO về nghiên cứu chế tạo tên lửa mang và động có tên lửa. Các chuyên gia của VSSC đã chế tạo thành công các loại tên lửa mạng ASLV, PSLV, SLV-3, GSLV và loạt tên lửa RONINI dùng cho mục đích nghiên cứu các tầng cao của khí quyển. Ngoài ra, các phòng thí nghiệm của ISRO còn nghiên cứu chế tạo nhiên liệu tên lửa, thiết bị vô tuyến điện tử trong tên lửa, các hệ thống điều khiển và các nghiên cứu về khí động lực học, nhiệt động lực học, chất dẻo polyme và các vật liệu mới, trong đó có vật liệu chịu nhiệt độ cao. Về phần mình, VSSC lại chia thành các bộ phận nhỏ như: Phòng Thí nghiệm vật lý vũ trụ (SPL), Nhà máy Thực nghiệm APEP sản xuất amoniắc axit clorat.

2. Trung tâm Nghiên cứu phát triển vệ tinh nhân tạo (ISAC) ở Bangalore, thực hiện toàn bộ chu trình R&D từ nghiên cứu, thiết kế, lắp ráp và thử nghiệm đồng bộ. ISAC có Phòng Thí nghiệm các hệ thống điện tử (hệ thống điều khiển số, liên lạc và đảm bảo năng lượng), Phòng Thí nghiệm các hệ thống cơ học, Phòng Thí nghiệm lắp ráp và thử nghiệm thiết bị bay và Phòng Thí nghiệm thiết kế (nghiên cứu các quan điểm và hướng dẫn thiết kế).

3. Trung tâm Động cơ phản lực nhiên liệu lỏng (LPSC) có nhiệm vụ thiết kế và chế tạo LPSC dùng cho tên lửa mang và thiết bị bay vũ trụ, cũng như hệ thống điều khiển động cơ.

4. Trung tâm Điều khiển, kiểm soát và điều khiển từ xa (ITRAC), thực hiện chức năng điều khiển và kiểm soát hành trình bay của tên lửa mang. ISTRAC có 7 trạm trên mặt đất, đặt Port-Blair tại các thành phố Bangalore, Lachnau, Sriharicota, Tiruvandram và một số trạm ngoài lãnh địa ấn Độ.

4. Cơ quan quốc gia điều khiển từ xa (NRSA) có nhiệm vụ: thu nhận, xử lý và phổ biến đến người sử dụng dữ liệu thu từ vệ tinh. NRSA , có khả năng thu nhận dữ liệu không những từ vệ tinh của ấn Độ, mà còn từ các vệ tinh của Mỹ (LANDSAT) và của châu Âu (ERS).

ISRO đã có nhiều nỗ lực để đưa ấn Độ tham gia vào thị trường thế giới về hàng hóa và dịch vụ vũ trụ. Hiện nay, ấn Độ đã có các định hướng cơ bản cho chính sách quốc gia về vũ trụ.

Trên cơ sở đánh giá tình hình thị trường quốc tế và khả năng thực tế của nền công nghiệp vũ trụ quốc gia, các chuyên gia của ấn Độ cho rằng, hoạt động kinh tế đối ngoại của ISRO nên hướng vào xuất khẩu vệ tinh nhân tạo loại ISR do ấn Độ chế tạo. Công dụng chủ yếu của loại vệ tinh IRS là thăm dò từ xa (viễn thám) bề mặt Trái đất và phục vụ kỹ thuật viễn thông. Trong tương lai, ấn Độ sẽ tập trung đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm của ngành công nghiệp vũ trụ sang các nước châu á-Thái Bình Dương. Năm 1992, ISRO đã cho thành lập Công ty Antrix Corp. Hoạt động chính của Antrix Corp là thúc đẩy thị trường tiêu thụ các phân hệ và thành phần hợp thành vệ tinh nhân tạo, dịch vụ thiết kế, triển khai và chế tạo vệ tinh nhân tạo theo đặt hàng. Ngoài ra, Antrix Corp còn thực hiện dịch vụ đưa vệ tinh nhân tạo của nước ngoại lên quỹ đạo bằng tên lửa mang do ấn Độ chế tạo. Các dữ liệu mà vệ tinh IRS thu được đã được Mỹ và Đức quan tâm và mua lại. Các nước Nhật Bản, Thái Lan, Ôxtrâylia, Nam Phi, ả Rập Xêut, áo và Canađa cũng rất quan tâm vì đề nghị mua ảnh viễn thám của ấn Độ.

Nhiệm vụ chính của ISRO trong tương lai là mở rộng phạm vi hoạt động và củng cố vị thế của mình trên thị trường quốc tế. Để thực hiện mục tiêu này, ISRO đã tiến hành nghiên cứu triển khai các mẫu hoàn chỉnh kỹ thuật vũ trụ, trong đó có lĩnh vực chế tạo hệ thống động cơ mới và nâng cao hiệu suất tên lửa mang. ấn Độ đã giành 10% chi ngân sách KH&CN cho chương trình vũ trụ. Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 10, ấn Độ đã chi cho Chương trình này 300-354 triệu USD. Chính phủ ấn Độ dự kiến, đến năm 2007 sẽ đưa lên quỹ đạo 19 vệ tinh nhân tạo thăm dò bề mặt trái đất và dùng làm phương tiện dịch vụ viễn thông.

Theo đánh giá của các chuyên gia ấn Độ, vệ tinh Insat-2 của ấn Độ hiện nay đã đáp ứng được phần lớn yêu cầu về dịch vụ viễn thông vũ trụ của đại bộ phận các nước Đông Nam á. Trong vòng 10-20 năm tới đây, ấn Độ sẽ đưa lên quỹ đạo vệ tinh thế hệ mới. Insat-3, khi đó ấn Độ sẽ giữ vị trí đứng đầu khu vực châu á-Thái Bình Dương về lĩnh vực viễn thông vũ trụ.

Về sự phát triển của Công ty Antrix Corp, mới đây một công ty lớn của Pháp, hãng Matra Marconi đã đặt hàng Antrix Corp cung cấp cho hãng này thiết bị ẩm nghiệm thủy lực để trang bị cho máy móc vũ trụ. Còn công ty Hughes Space & Communication của Mỹ đã ký một hợp đồng trị giá 2 triệu USD với các xí nghiệp trực thuộc Antrix Corp chế tạo hệ thiết bị động cơ và hệ thống liên lạc siêu cao tần. Dự kiến, trong 3 năm tới đây, giá trị của hợp đồng này có thể lên tới 20-30 triệu USD. Người Khổng lồ Microsoft đang đàm phán với ISRO cung cấp chương trình phần mềm Teledisc, sử dụng cho mạng Internet vệ tinh toàn cầu trong tương lai. Trong năm 2004 này, ấn Độ sẽ ký được hợp đồng sản xuất và đưa lên quỹ đạo 84 vệ tinh nhỏ.

Nhiều chuyên gia ấn Độ cho rằng, những nỗ lực của Chính phủ ấn Độ sẽ cho phép quốc gia trong tương lai gần củng cố được vị thế của mình trên thị trường quốc tế về hàng hóa và dịch vụ vũ trụ, nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm công nghiệp vũ trụ và cuối cùng là tăng được phần đóng góp tài chính cho ngân sách nhà nước. Theo tính toán hiện nay, giá trị thu được hàng năm từ việc sử dụng và kinh doanh dịch vụ thông qua vệ tinh Insat-2D và tên lửa mang GSLV là 170 triệu USD. Trong tương lai gần, khi Insat-3 sẽ được đưa vào khai thác, giá trị này sẽ đạt con số 500 triệu USD.

Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt với các công ty phương Tây trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ vũ trụ, ISRO đã đặt ra những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay là phát triển hợp tác với các nước khác trong nghiên cứu và sử dụng không gian vũ trụ, xác lập đối tác chiến lược, v.v…

Năm 1994, ISRO đã ký với Công ty EOSAT (Earth Observation Satellite Company) của Mỹ một hợp đồng trị giá 750 USD về việc ISRO cho phép EOSAT có quyền sử dụng và phổ biến ảnh vũ trụ, mà ấn Độ thu được. Mới đây ISRO vừa ký một hợp đồng trị giá 2 tỷ USD với Tập đoàn SIG (Space Imaging Group) mới thành lập có nội dung tương tự như hợp đồng đã ký với EOSAT năm 1994.

Cho đến nay ISRO đã hợp tác với nhiều tổ chức khác nhau của hơn 10 nước trong lĩnh vực liên doanh khai thác không gian vũ trụ. Năm 2003, ấn Độ đã ký các văn bản hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp vũ trụ với Canađa, Na Uy, Anh. Một điểm đáng lưu ý là, hiện nay ISRO rất chú ý đến việc tăng cường hợp tác với các nước trong khu vực châu á-Thái Bình Dương.

Đăng trong Tin thế giới | Tagged: | Leave a Comment »

NASA chuẩn bị phóng robot Phoenix thăm dò sao Hỏa

Đăng bởi Hoàng Phong on Tháng Tư 27, 2008

Cơ quan NASA chuẩn bị phóng một robot thăm dò sao Hỏa nhằm truy tìm những dấu vết của sự sống có mặt hoặc từng tồn tại trên hành tinh đỏ.

Robot Phoenix Mars Lander được dự kiến phóng đi trong khoảng thời gian từ ngày 3 đến 24/8 từ bang Florida và sẽ đến gần cực Bắc sao Hỏa vào ngày 25/5/2008.

Sứ mệnh sẽ kéo dài khoảng 3 tháng. NASA đã nhắm vào một khu vực không có tảng đá, ở vĩ độ tương tự như miền Bắc Alaska trên Trái Đất và với nhiệt độ âm 100oC.

Nếu đáp an toàn xuống sao Hỏa, robot sẽ triển khai cánh tay dài 2,3m nhằm đào xuống độ sâu 1m. Các nhà khoa học hy vọng nó sẽ tìm thấy băng dưới lòng đất.

Sau đó, robot sẽ xác định nước đóng băng này này có tạo thuận lợi cho sự phát triển của các loài vi khuẩn hay không.

“Robot sẽ phân tích nước, xác định thành phần hóa học, các đặc tính vật lý và sẽ tiết lộ về lịch sử của nước trên sao Hỏa cùng sự có mặt tiềm ẩn của loài vi khuẩn”, nhà khoa học Bobby Fogel thuộc NASA nói.

Đăng trong Tin thế giới | Tagged: | Leave a Comment »

Trung Quốc sẽ phóng ba vệ tinh trên một tên lửa vào năm 2011

Đăng bởi Hoàng Phong on Tháng Tư 27, 2008

Kế hoạch Vệ tinh Vũ trụ Thăm dò Bão (Space Storm Probe Plan) của Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Viện sĩ Liu Zhengxing gần đây đã được đưa vào danh sách các dự án cốt lõi của giai đoạn đầu thuộc Kế hoạch Quốc tế Tìm hiểu về một ngôi sao (International Living With a Star – ILWS). Theo Viện sĩ cho biết, các ngành chức năng đang cố gắng để hợp nhất kế hoạch này vào Kế hoạch 5 năm lần thứ 11 và các kế hoạch trung và dài hạn của Trung Quốc. Viện sĩ Liu Zhengxing cho biết chỉ có làm như vậy họ mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ phóng 3 vệ tinh vào năm 2011 theo như kế hoạch đã đặt ra.

Công việc chuẩn bị cho giai đoạn đầu đã bắt đầu

Kế hoạch Vệ tinh Vũ trụ thăm dò Bão của Trung Quốc đã được đánh giá cao trong hội nghị lần thứ hai của ILWS tại Canada, tổ chức vào hồi đầu tháng 6. Viện sĩ Liu Zhengxing cho biết công việc chuẩn bị cho giai đoạn đầu của dự án đã bắt đầu và Trung tâm Khoa học và Nghiên cứu ứng dụng vũ trụ thuộc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc đã được dành những khoản kinh phí đặc biệt cho dự án hoàn thành kế hoạch phóng vệ tinh vào năm 2011.

Kế hoạch phóng vệ tinh được ấn định vào năm 2011

Theo Viện sĩ Liu Zhengxing cho biết, kế hoạch bao gồm việc phóng 3 vệ tinh thăm dò. Một vệ tinh sẽ có thể bay trên quỹ đạo cách Trái đất khoảng 700 kilômét để tiến hành thăm dò tầng iôn quyển và nhiệt quyển của Trái đất; một vệ tinh bay trên quỹ đạo cách Trái đất 50.000 kilômét sẽ thực hiện thăm dò vùng cận từ quyển; và một vệ tinh nữa bay trên quỹ đạo cao 150.000 kilômét, sẽ tiến hành thăm dò vùng gió Mặt trời bên ngoài tầng từ quyển. Theo các chuyên gia đánh giá rằng, qua việc thực hiện kế hoạch này, lần đầu tiên các nhà khoa học sẽ có thể cùng tiến hành thăm dò 4 vùng trong vũ trụ, đó là tầng iôn quyển, nhiệt quyển, từ quyển của Trái đất và vùng gió Mặt trời. Viện sĩ Liu Zhengxing cho biết, tại hội nghị Kế hoạch ILWS, các nhà khoa học đã dự định rằng 3 vệ tinh này sẽ được phóng vào năm 2011 và điều cần xem xét chủ yếu sẽ là điểm cực đại tiếp theo của các động thái Mặt trời.

Việc khắc phục công nghệ 3 vệ tinh trên một tên lửa không phải là khó

Như đã được biết, 3 vệ tinh nói trên sẽ luân chuyển trên cùng một mặt phẳng quỹ đạo với độ ngiêng 65o so với mặt phẳng xích đạo của Trái đất. Theo ước đoán của Viện sĩ Liu Zhengxing, thì việc phóng đồng thời 3 vệ tinh trên vào các quỹ đạo mong muốn là điều hoàn toàn thực tế. Ông cho biết, để làm được điều này sẽ cần đến công nghệ tên lửa ở cấp cao hơn và với những nỗ lực về công nghệ thì sẽ không có gì là không thể khắc phục được. So với kế hoạch Vệ tinh kép, kế hoạch này có hai đặc điểm. Thứ nhất, phạm vi thăm dò vũ trụ sẽ mở rộng hơn. Thứ hai, kế hoạch Vệ tinh kép phóng 2 vệ tinh trong vòng khoảng nửa năm. Trong thời gian này không thực hiện được sự quan trắc phối hợp. Trong khi đó, chỉ cần một bước kế hoạch phóng 3 vệ tinh trên một tên lửa có thể hoàn thành được nhiệm vụ và làm hiện thực hoá sự quan trắc đồng bộ.

ILWS – Kế hoạch Quốc tế tìm hiểu về một ngôi sao

ILWS là kế hoạch hợp tác quốc tế thăm dò không gian vũ trụ Trái đất – Mặt trời lớn nhất trong 20 năm đầu của thế kỷ 21. Kế hoạch này sẽ thực hiện một sự thăm dò có hệ thống các động thái khác nhau trong không gian vũ trụ giữa Mặt trời và Trái đất. Hiện nay có 24 cơ quan vũ trụ quốc gia và hai tổ chức khoa học vũ trụ quốc tế thuộc các nước Mỹ, châu Âu, Nga, Nhật Bản, Canada và Trung Quốc tham gia. Trung Quốc tham gia kế hoạch này theo lời mời của Chủ tịch Uỷ ban hướng dẫn kế hoạch ILWS

Đăng trong Tin thế giới | Tagged: | Leave a Comment »

Phóng thành công trạm vũ trụ sử dụng công nghệ giãn nở

Đăng bởi Hoàng Phong on Tháng Tư 27, 2008

Một môđun thí nghiệm không người lái có khả năng giãn nở thuộc trạm vũ trụ tư nhân vừa được phóng lên quỹ đạo bằng một tên lửa của Nga, Bigelow Aerospace – công ty phát triển công nghệ trên của Mỹ cho biết.

Theo công ty vũ trụ Bigelow Aerospace có trụ sở tại Nevada, tên lửa có tên Dnepr đã mang môđun Genesis II rời bệ phóng ngay sau 7 giờ chiều (giờ địa phương) tại ISC Kosmotras Yasny Cosmodrome ở vùng Orenburg của Nga.

Môđun có chiều dài khoảng 4,6m được thiết kế để nở rộng đến đường kính 2,4m. Việc liên lạc với môđun đã được thực hiện sau đó cùng ngày và dữ liệu thu được cho thấy hệ thống năng lượng trong tình trạng tốt và áp lực không khí trong môđun ổn định.

Chris Reed – phát ngôn viên của Bigelow – cho biết, điều đó chưa thể khẳng định chắc chắn các tấm pin mặt trời đã được triển khai và vỏ bên ngoài đã được nở rộng. “Tuy nhiên, tất cả các dữ liệu thu được đều cho thấy như vậy”.

Robert T. Bigelow – chủ sở hữu chuỗi khách sạn sang trọng Budget Suites ở Mỹ và là nhà sáng lập công ty vũ trụ Bigelow – cũng có mặt tại phi trường. Những nhân viên của Bigelow theo dõi quá trình phóng lên quỹ đạo bằng các phương tiện kiểm soát đặt tại phía bắc Las Vegas.

Genesis II là môđun thứ hai được phóng lên để thử nghiệm công nghệ có thể được sử dụng tại các trạm vũ trụ thương mại phục vụ con người trong tương lai. Hè năm ngoái, công ty Bigelow cũng đã phóng môđun Genesis I, nó đã giãn nở thành công và đã gửi về những bức ảnh của chính nó trong không gian.

Bigelow hy vọng sẽ sử dụng công nghệ giãn nở để xây dựng một trạm vũ trụ có thể mở rộng được trên quỹ đạo dựa trên việc lắp ghép các môđun Genesis với nhau. Sự lắp ghép này giống như các chuỗi móc xích và không gian được tạo ra trong mỗi mắt xích sẽ được sử dụng như là khách sạn, phòng thí nghiệm khoa học hay thậm chí là sân thi đấu thể thao.

Không giống như trạm vũ trụ quốc tế làm bằng hợp kim nhôm cứng nhắc, các môđun Genesis gồm một lớp vỏ ngoài linh hoạt và các lớp vỏ làm bằng vật liệu rất dai như Kevlar (là thương hiệu của sợi poly-paraphenylene terephthalamide được dùng trong áo giáp và mũ cối quân đội), để chịu đựng được các vụ va chạm với các mảnh vũ trụ. Vỏ của môđun sẽ gấp gọn quanh một trục và sẽ nhân đôi kích thước bề rộng sau khi giãn nở bằng khí nén khi ở trên quỹ đạo.

Vào những năm 1990 của thế kỷ trước, NASA đã nghiên cứu công nghệ giãn nở cho một chuyến bay tới sao Hoả, nhưng sau đó đã phải từ bỏ ý định này khi nhận thấy các môđun giãn nở có giá thành quá cao. Sau đó công ty Bigelow Aerospace đã mua công nghệ đó của NASA.

Công ty Bigelow đã chi 500 triệu đô la Mỹ nhằm xây dựng một trạm vũ trụ thương mại hoàn thành vào năm 2015.

Đăng trong Công nghệ mới, Tin thế giới, Tàu không gian | Tagged: | Leave a Comment »

Châu Âu xây dựng hệ thống đưa người lên vũ trụ

Đăng bởi Hoàng Phong on Tháng Tư 27, 2008

Các tập đoàn công nghiệp trên thế giới đã nhóm họp tại châu Âu để xem xét kỹ lưỡng những ý tưởng về một hệ thống mới có thể đưa người lên vũ trụ.

Cuộc gặp này do Cơ quan Hàng không vũ trụ châu Âu (ESA) tổ chức thông qua một chương trình nghiên cứu phát triển có sự tham gia của nước Nga và Nhật Bản cho biết cũng sẵn sàng đóng góp cho chương trình này.

Các cuộc thảo luận trao đổi ở cấp ngành công nghiệp sẽ chính thức được bắt đầu vào tháng 7 năm nay.

Châu Âu đang gấp rút tìm kiếm một hệ thống vận chuyển người hoạt động độc lập với hệ thống vận tải mới Orion của Mỹ được dự kiến sẽ thay thế các tàu con thoi trong vòng 10 năm tới.

Hệ thống vận chuyển người vào vũ trụ mới này (Crew Space Transportation System CSTS) có thể là một sự kế thừa và cải tiến của hệ thống Soyuz của Nga hoặc là xây dựng một hệ thống hoàn toàn mới.

Daniel Sacotte – giám đốc phụ trách chương trình bay đưa người vào không gian, vi trọng lực và bay thăm dò của Esa – cho biết: “Chúng tôi cần 2 hệ thống vận tải bởi chúng tôi không thể chỉ dựa vào 1 hệ thống. Chúng tôi muốn có 2 hệ thống hoạt động song song để phối hợp. nhờ vậy, nếu một hệ thống gặp trục trặc, hệ thống còn lại sẽ cho phép công việc khám phá vũ trụ vẫn tiếp tục được tiến hành”.

Hướng tới tương lai

Những tập đoàn công nghiệp tham gia dự án ở châu Âu bao gồm EADS-Astrium (sẽ đảm nhiệm sản xuất các tên lửa Ariane và xây dựng môđun trạm vũ trụ Columbus) và Thales Alenia Space. Đối với Nga – nước phụ trách việc nghiên cứu – nhà sản xuất Soyuz RKK Energia cũng sẽ được tham gia.

Thiết bị vận chuyển Orion của Mỹ đang được xây dựng để thay thế các tàu con thoi

Nhóm công tác hy vọng sẽ có một số hiệp ước có thể được thực hiện trước khi các bộ trưởng ngành vũ trụ của châu Âu gặp nhau vào năm 2008.

Esa đã chi khoảng 18 triệu euro cho mục tiêu này. Nếu các Bộ trưởng thông qua kế hoạch phát triển tiếp theo của CSTS, Esa có thể sẽ chi thêm hàng trăm triệu euro nữa.

Về phần mình, nước Mỹ cũng đang quay lại sử dụng một số đặc tính của hệ thống Apollo cho dự án Orion mới của mình – một môđun chuyên trở hình con nhộng được phóng bằng các quả tên lửa dùng một lần, tương phản với hình dạng các tàu vũ trụ được sử dụng trong hệ thống tàu con thoi hiện nay của họ.

Cách hoạt động của tàu vũ trụ Orion của Mỹ

Mục đích của dự án quay trở lại với hệ thống Apollo của Esa là tìm ra một kiến trúc thích hợp nhất cho CSTS. Điều này sẽ phụ thuộc vào chủng loại tên lửa được sử dụng cho các chuyến bay trên quỹ đạo thấp quanh trái đất đến trạm vũ trụ hay đưa người lên mặt trăng.

Trong trường hợp này, kinh nghiệm phóng các tàu Soyuz của Nga là mấu chốt, tuy nhiên châu Âu vẫn tin vào những nỗ lực gần đây của chính họ cũng sẽ mang lại những đóng góp đáng giá cho dự án trên.

Thiết bị ATV – là tàu vận chuyển nặng 20 tấn – sẽ được trang bị các hệ thống tiếp xúc và kết nối tự động trong không gian và các hệ thống này cũng được trang bị cho một số hệ thống vận chuyển người vào vũ trụ trong tương lai.

ATV sẽ cung cấp hàng hoá cho Trạm ISS có tải trọng lên tới 7500kg

Những chuyến hàng sẽ bao gồm thiết bị khoa học, thực phẩm và quần áo.

Các khoang chứa lớn có thể vận chuyển cung cấp không khí, nước và nhiên liệu thiết yếu.

Dự án ATV ước tính tiêu tốn khoảng 1,3 triệu euro.

Ông Sacotte cho biết: “Đây sẽ là một hệ thống với những bộ phận khác nhau có thể là một hệ thống phóng tàu kiểu cổ điển hoặc những hệ thống được bắt nguồn từ thiết bị vận chuyển tự động. Và nếu chúng ta muốn bay tới mặt trăng thì đó là điều cần phải được quan tâm thích đáng. Chúng tôi đã có ý tưởng rất rõ ràng về những môđun này”.

Nhà sản xuất các thiết bị vũ trụ EADS-Astrium của châu Âu đã có những cuộc đàm phán sơ bộ với những người Nga về chủ đề trên.

Philippe Berthe – kỹ sư hệ thống làm việc trong các dự án phức tạp – cho biết: “Chúng tôi mong muốn ATV sẽ được sử dụng như là nguồn tạo ra các bí quyết và kinh nghiệm cho các thiết bị vận chuyển vũ trụ trong tương lai của châu Âu. Điều này đòi hỏi cần phải nắm vững rất nhiều hệ thống phức hợp trong đó các tiểu hệ thống sẽ luôn có mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Một khi bạn phát triển một chương trình phức tạp như ATV, bạn cũng cần phải phát triển một hệ thống con người. Chúng tôi mong muốn sẽ tạo ra một hệ thống kết hợp được các khả năng của Nga và châu Âu để chúng tôi có thể xây dựng được một phương tiện vận tải trong vũ trụ có khả năng thực hiện nhiệm vụ mà con người mong muốn. Và khám phá mặt trăng sẽ là bước đi đầu tiên.

Kịch bản khám phá mặt trăng sử dụng tàu Orion của Mỹ và hệ thống tên lửa đẩy ARES của châu Âu

(1) Tên lửa đẩy loại nặng Ares 5 khai hoả từ Trái đất mang theo môđun hạ cánh trên mặt trăng và một môđun tên lửa đẩy khởi hành (departure stage).

(2) Sau một vài ngày, các phi hành gia sẽ được đưa lên vũ trụ bằng tên lửa Ares 1 gắn vào môđun vận chuyển Orion.

(3) Tàu Orion sẽ gắn với môđun hạ cánh và tên lửa đẩy khởi hành trên quỹ đạo của trái đất và sau đó bay thẳng đến mặt trăng.

(4) Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đưa môđun Orion và khoang hạ cánh đến đích, tên lửa đẩy sẽ được tách khỏi hệ thống.

(5) Tại mặt trăng, các phi hành gia rời tàu Orion sang khoang hạ cánh để bắt đầu chuyến thám hiểm bề mặt của mặt trăng.

(6) Sau khi khám phá bề mặt của mặt trăng trong vài ngày, nhóm thám hiểm sẽ bay trở về Orion nhờ một bộ phận chuyên dụng gắn với môđun hạ cánh.

(7) Trên quỹ đạo của mặt trăng, bộ phận này sẽ gắn trở lại với Orion và bắt đầu chuyến trở lại trái đất.

( 8) Trên đường trở về, bộ phận tên lửa đẩy của Orion tách khỏi hệ thống. Bộ phận này được tách rời khi khoang chở người hình con nhộng đi vào bầu khí quyển.

(9) Một lớp vỏ chịu nhiệt sẽ bảo vệ khoang chở người không bị bốc cháy và những chiếc dù sẽ giúp khoang trở người hạ cánh an toàn trên mặt đất, có thể là ở California.

Theo BBC News

Đăng trong Tin thế giới | Tagged: | Leave a Comment »

Tên lửa đẩy KSLV-Hàn Quốc

Đăng bởi Hoàng Phong on Tháng Tư 27, 2008

Chuyến du hành của phi hành gia Hàn Quốc đầu tiên Yi S-youn đã đưa Hàn Quốc tiến thêm một bước trên con đường chinh phục vũ trụ. Hàn Quốc đã hoàn thành phần trên của tên lửa đẩy vệ tinh cỡ nhỏ KSLV-I với công nghệ trong nước.
KSLV-I là một tên lửa 2 chu trình được thiết kế để phóng vệ tinh với trọng tải 100 kg vào quỹ đạo. Tên lửa này dự kiến sẽ được phóng vào cuối năm nay (12/2008 tại trung tâm vũ trụ Naro của Hàn Quốc.

Space Korea

Tháng 3 năm 2005, Bộ khoa học và công nghệ Hàn Quốc đã giới thiệu dự án “Space Korea”. Đây là dự án đầy tham vọng phát triển vũ trụ của Hàn Quốc trong đó có việc đưa người lên vũ trụ, phát triển tên lửa đẩy bằng công nghệ trong nước, xây dựng trung tâm vũ trụ, v.v…Tuy nhiên việc hỗ trợ mang tính hệ thống của nhà nước thông qua Luật thúc đẩy phát triển vũ trụ là được xem là yếu tố quan trọng nhất. Hàn Quốc cũng đang có kế hoạch dài hạn như phóng tên lửa đẩy chế tạo bằng công nghệ trong nước vào năm 2017 và phóng tàu thăm dò mặt trăng vào năm 2025.

Tên lửa đẩy

Phát triển vũ trụ thường bao gồm các yếu tố như vệ tinh, tên lửa đẩy và trung tâm vũ trụ (bệ phóng và trung tâm điều khiển). Quan trọng nhất trong số này là tên lửa đẩy. Hàn Quốc đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc phát triển vệ tinh như chế tạo vệ tinh bằng công nghệ riêng của mình. Tuy nhiên tốc độ phát triển thiết bị phóng vẫn còn chậm. Hàn Quốc đã phóng nhiều vệ tinh lên quỹ đạo nhưng tất cả đều được phóng bằng tên lửa của nước ngoài. Trên thế giới hiện nay mới chỉ có 8 quốc gia có khả năng chế tạo và phóng tên lửa đẩy. Chỉ khi tiến hành phát triển tên lửa đẩy thì Hàn Quốc mới có thể trở thành thành viên “Câu lạc bộ vũ trụ”-câu lạc bộ của những quốc gia phát triển vũ trụ đích thực với khả năng phóng tên lửa của mình.

KSLV (Korea Space Launch Vehicle)

Có thể nói rằng việc phát triển tên lửa đẩy KSLV là nội dung quan trọng nhất của dự án “Space Korea”. Hiện nay Hàn Quốc đang cùng Nga chế tạo tên lửa đẩy cỡ nhỏ (KSLV-I). Thông qua lần hợp tác này, Hàn Quốc sẽ tích lũy kỹ thuật để có thể tự mình phát triển tên lửa đẩy. Theo kế hoạch thì Hàn Quốc sẽ thực sự trở thành một cường quốc về vũ trụ với việc phóng tên lửa đẩy chế tạo bằng công nghệ trong nước vào năm 2017.

KSLV-I

KSLV-I là một tên lửa 2 chu trình. Phần dưới (tên lửa chu trình 1) là tên lửa Angara sử dụng nhiên liệu lỏng được chế tạo tại Nga. Phần trên (tên lửa chu trình 2) sử dụng nhiên liệu rắn và đã được chế tạo thành công tại Hàn Quốc. Các bộ phần quan trọng như hệ thống điều khiển, hệ thống an toàn bay, hệ thống điện tử, v.v…đều được thiết kế, chế tạo, lắp ráp bằng công nghệ trong nước.

Thông số của KSLV-I
Tổng trọng lượng Chiều dài Đường kính Trọng tải Lực đẩy
140 t 33 m 2.9 m 100 kg 170t
Tình hình phát triển vũ trụ của thế giới
Nước chế tạo tàu vũ trụ có người lái Nga, Mỹ, Trung Quốc.
Nước chế tạo và phóng tên lửa đẩy Nga, Mỹ, Ucraina, Liên minh châu Âu, Israel, Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc.
Tình hình phát triển vũ trụ của Hàn Quốc
- Vệ tinh: trình độ ngang bằng với các nước phát triển.
- Tên lửa đẩy: tự chế tạo phần trên bằng công nghệ trong nước.
- Trung tâm vũ trụ: Trung tâm vũ trụ Naro sẽ hoàn thành trong năm 2008.
- Phóng tên lửa tự chế tạo: Bằng việc phóng tên lửa KSLV-I vào 12/2008, Hàn Quốc sẽ trở thành nước thứ 9 trên thế giới có thể phóng tên lửa tự chế tạo.
Tương lai của Space Korea

Chuyến du hành của phi hành gia đầu tiên và việc hoàn thành phần trên của tên lửa đẩy bằng công nghệ trong nước đã giúp cho Hàn Quốc tiến gần hơn đến thời đại vũ trụ. Nhưng Seoul vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Đó chính là việc tự phát triển phần dưới của tên lửa đẩy. Giấc mơ này sẽ được thực hiện tại trung tâm vũ trụ Naro trong tương lai.

Đăng trong Tin thế giới, Tên lửa đẩy | Tagged: | Leave a Comment »

Bắn hạ vệ tinh nhân tạo: thành tựu vượt bậc về khoa học quân sự của Trung Quốc

Đăng bởi Hoàng Phong on Tháng Tư 27, 2008

Ngày 1/1/2008 vừa qua Trung Quốc đã bắn thử thành công tên lửa phá huỷ vệ tinh thời tiết cũ FY-1C mà nước này đã sử dụng từ 7 năm nay ở độ cao 800 km. Ngày 18/1, Mỹ đã xác nhận thông tin này sau khi phân tích các tin tức tình báo. Đài CNN dẫn lời một quan chức Mỹ cho biết đây là vụ thử thành công đầu tiên của Trung Quốc sau khi thất bại trong 3 lần thử trước đó. Vệ tinh mục tiêu FY-1C, vào quỹ đạo năm 1999, đã trúng tên lửa được bắn từ Trung tâm phóng vệ tinh ở tỉnh Tứ Xuyên hoặc một khu vực gần đó. Tên lửa này mang một thiết bị đặc biệt, tiêu diệt vệ tinh bằng cách đâm mạnh vào mục tiêu. Nguồn tin của CNN cho biết các thiết bị dò tìm của Mỹ xác định rằng vệ tinh FY-1C không còn tồn tại và vụ nổ đã làm văng ra hàng nghìn mảnh vỡ lơ lửng giữa không gian, đe dọa tới nhiều vệ tinh nhân tạo khác.
Theo tính toán của ông David Wright, Giám đốc Chương trình An ninh toàn cầu của tổ chức Concerned Scientist ở Cambridge, bang Massachusetts (Mỹ), vụ hủy diệt vệ tinh FY-1C đã tạo ra 40.000 mảnh vỡ lớn hơn 1 cm và khoảng 2 triệu mảnh vụn lớn hơn 1 mm. Ở độ cao mà vệ tinh này đang bay có rất nhiều vệ tinh khí hậu, chụp ảnh, viễn thám và viễn thông v.v… Những vệ tinh này có thể bị những mảnh vụn vừa kể bay với tốc độ 7,5 km/giây, tức nhanh hơn máy bay phản lực 30 lần, làm hư hỏng nặng. Nguy hiểm nhất là trường hợp các mảnh vụn bay với tốc độ 76.000 km/giờ có thể làm nổ tung các vệ tinh khác và tạo ra một đợt mảnh vụn mới. Hoặc làm các vệ tinh này sẽ không còn bay đúng quỹ đạo định sẵn nữa. Bart Gardon, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Hạ viện Mỹ, cho rằng nó sẽ tạo ra một môi trường những nguy cơ lớn cho các vệ tinh thương mại và dân sự. NASA đã từng thử nghiệm và chứng tỏ một mảnh vỡ nhỏ cũng có thể xuyên thủng tàu con thoi. Ngay Trạm không gian quốc tế ISS cũng có thể bị va chạm, vì ISS cách Trái đất chưa đến 400km, trong khi FY-1C cách Trái đất 800km. Ngoài ra, hiện có khoảng 26.000 vệ tinh nhân tạo ngoài không gian trong quỹ đạo Trái đất, hầu hết là vệ tinh truyền thông và thời tiết, số còn lại là các vệ tinh do thám, định vị, mà chủ yếu là của Mỹ, Nhật Bản, Nga, châu Âu và Trung Quốc.
Các loại vệ tinh quỹ đạo thấp hiện đóng vai trò sống còn đối với hệ thống thông tin, định vị toàn cầu cho bom thông minh và cho binh lính cũng như công tác do thám của quân đội Mỹ. Việc nước khác thử thành công tên lửa diệt vệ tinh được người Mỹ nhìn nhận như một lời thách thức. Tháng 8/2006, Tổng thống Bush đã phê chuẩn chính sách xác nhận quyền “tự do hành động” của Mỹ trong không gian và “sẽ ngăn chặn bất kỳ nước nào xâm hại những quyền đó hoặc phát triển công nghệ để xâm hại những quyền đó”. Chính vì thế, thật dễ hiểu khi Mỹ có phản ứng quyết liệt sau vụ thử của Trung Quốc. Mỹ và một số nước khác đã bày tỏ thái độ lo ngại sau khi các nguồn tin tình báo cho biết Trung Quốc vừa thực hiện thành công một vụ thử tên lửa chống vệ tinh. Ngày 19/1, Anh Quốc, Nhật Bản và Ôxtrâylia đã cùng Mỹ lên tiếng bày tỏ sự lo ngại về việc không gian đang ngày càng bị quân sự hóa sau việc Trung Quốc thành công trong việc thử vũ khí chống vệ tinh. Họ cho rằng việc Trung Quốc phát triển và thử nghiệm loại võ khí này là không đúng với tinh thần hợp tác mà hai quốc gia đều mong muốn trong lãnh vực không gian dân sự. Các nhà phân tích nói rằng vệ tinh khí tượng của Trung Quốc bay ở cùng cao độ với vệ tinh do thám của Mỹ, do đó cuộc thử nghiệm này cũng là mối đe dọa gián tiếp cho hệ thống phòng thủ của Mỹ. Phía Anh Quốc cho rằng việc thử vũ khí này có thể không đi ngược lại công pháp quốc tế, tuy nhiên London tin rằng việc phát triển kỹ thuật này và cách thức thực hiện vụ bắn thử đã không đúng với tinh thần của văn kiện Trung Quốc gửi đến Liên Hiệp Quốc và những cơ quan khác về việc sử dụng không gian trong lãnh vực quân sự. Bình luận về việc Trung Quốc vừa bắn thử thành công tên lửa phá huỷ vệ tinh trên quỹ đạo, một nguồn tin Bộ Quốc phòng Nga ngày 20/1 cho rằng sự việc đó cho thấy Trung Quốc đã trở thành một cường quốc vũ trụ hùng mạnh và đã có một sự thay đổi về chất rất sâu sắc trong lực lượng vũ trang Trung Quốc. Nguồn tin cũng cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn tới việc này là chính sách hiếu chiến của Mỹ đã kích động một cuộc chạy đua vũ trang mới.
Tờ “Le Figaro” của Pháp đăng bài với tiêu đề “Trung Quốc phát động trở lại cuộc chiến tranh giữa các vì sao”, cho rằng Trung Quốc muốn quân sự hóa không gian và như vậy đi ngược lại những cam kết của Bắc Kinh về phi quân sự hóa khoảng không vũ trụ. Tờ The New York Times cho rằng Washington nên hành động bằng cách làm việc để cấm sử dụng vũ khí trên khoảng không vũ trụ. The New York Time cho rằng sự im lặng của Trung Quốc đánh dấu sự lớn mạnh nhanh chóng của quân đội nước này, đặc biệt là lực lượng pháo binh thứ hai phụ trách chương trình tên lửa đạn đạo. Đây là một đơn vị bí mật đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Chủ tịch – đồng thời là Tổng tư lệnh – Hồ Cẩm Đào. Có được vũ khí có thể vô hiệu hóa hoặc phá hủy vệ tinh là một thành phần trong chủ thuyết chiến tranh bất xứng (nước yếu chống nước mạnh). Các nhà chiến lược quân sự Trung Quốc từng viết rằng trong trường hợp xung đột vũ trang với Mỹ, quân đội Trung Quốc sẽ dùng kỹ thuật tương đối ít tiền nhưng có hiệu quả gây rối cao để chống lại các lực lượng Mỹ được trang bị và huấn luyện tốt hơn. Tờ South China Morning Post của Hồng Công dự đoán với hành động này, Bắc Kinh đang tìm cách buộc Mỹ phải tham gia đàm phán về một hiệp ước vũ khí. Trong khi đó, tờ Financial Time của Anh bày tỏ lo ngại cuộc thử nghiệm có thể càng làm quan điểm của Mỹ cứng rắn hơn. Tờ “Indian Express” của Ấn Độ cũng lên tiếng bày tỏ lo ngại việc Trung Quốc vừa bắn thử thành công tên lửa phá huỷ vệ tinh trên quỹ đạo có thể ảnh hưởng tới tham vọng chinh phục vũ trụ của Ấn Độ.
Việc Trung Quốc nghiên cứu và phát triển những loại vũ khí vừa nêu đã được Mỹ biết đến từ lâu nhưng quyết định cho thử là một bất ngờ đối với nhiều nhà phân tích Mỹ. Cách đây không lâu, Trung Quốc công bố sách trắng nêu rõ quan điểm của Trung Quốc là “không có vũ khí trong không gian vũ trụ” vì nó là tài sản chung của nhân loại. Phải chăng với vụ thử này, Trung Quốc muốn gây sức ép buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán cấm vũ khí không gian vũ trụ? Một vài nhà phân tích tin như vậy. Bấy lâu nay, Nga và Trung Quốc vẫn kêu gọi Washington ký một hiệp ước như thế nhưng bị Tổng thống Bush bác bỏ vì ông này chủ trương “tự do hành động” trong không gian vũ trụ.
Với vụ bắn hạ vệ tinh của Trung Quốc, chắc chắn là Mỹ sẽ phải xem xét lại toàn bộ chiến lược không gian vũ trụ của mình. Cơ quan lo lắng nhất là Lầu Năm Góc, tức Bộ Quốc phòng Mỹ. Những vệ tinh do thám của họ vốn bay thấp như vệ tinh thăm dò thời tiết của Trung Quốc được coi là tai mắt từ nay sẽ không còn bất khả xâm phạm mặc dù những vệ tinh này được thiết kế theo công nghệ tàng hình tân tiến nhất. Thay vì sử dụng những vệ tinh thật to, đắt tiền, Lầu Năm Góc từ nay sẽ thiết kế những vệ tinh nhỏ để tối ưu hóa cơ hội sống sót một khi có tên lửa thù địch nào đó bắn lên.
Thực ra đây không phải là lần đầu tiên người ta sử dụng tên lửa để bắn vệ tinh. Hủy diệt một vệ tinh đang bay là một kỹ thuật đã được Nga thử nghiệm vào cuối thập niên 1960 và Mỹ thử nghiệm từ giữa thập niên 1980, mỗi nước mỗi cách khác nhau. Cách của Nga là phóng lên một “vệ tinh sát thủ” bay cùng một quỹ đạo với mục tiêu dùng ra đa điều khiển cho nó bay đến gần mục tiêu khoảng 8 km rồi cho nổ tung phá hủy luôn mục tiêu. Cách này chỉ hữu hiệu 50%. Ngày 13/9/1985, Mỹ phóng một loại vũ khí từ máy bay tiêm kích F-15 dùng động năng của chính nó hủy diệt một vệ tinh nghiên cứu đã lỗi thời. Cách thử của Trung Quốc cũng gần giống như thế nhưng bắn từ mặt đất. Cựu Ðại Tướng Leonid Ivashov, nguyên trưởng Phòng Hợp Tác Quốc Tế Bộ Quốc Phòng Nga, cho biết vũ khí Trung Quốc sử dụng đã dựa theo hỏa tiễn IS-1 của Nga, được chế tạo trong thập niên 70 nhằm phá hủy vệ tinh. Nga và Mỹ từ đó đến nay không thử tên lửa bắn vệ tinh nữa vì có một vấn đề chưa biết phải xử lý như thế nào. Đó là những mảnh vỡ của vệ tinh có thể tồn tại hàng chục năm trong không gian khi bị hủy diệt. Chúng rất nguy hiểm cho các vệ tinh và phi thuyền.
Thời chiến tranh lạnh, Tổng thống Mỹ Ronald Reagan còn đề xuất xây dựng hệ thống phòng thủ sử dụng công nghệ laser để bắn chặn tên lửa hạt nhân. Tuy nhiên, chương trình mang tên “Chiến tranh giữa các vì sao” này đã bị hủy bỏ vào năm 1993. Giờ đây, sau khi thông tin về vụ thử của Trung Quốc được loan đi, có thể Mỹ sẽ triển khai một chương trình mới để đối phó. Giới phân tích lo ngại rằng một số nước như Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc cũng sẽ phát triển công nghệ “quân sự không gian” sau sự kiện này. Các chuyên gia Viện Nghiên cứu hoà bình quốc tế (SIPRI) đặt trụ sở tại Xtốc-khôm (Thuỵ Điển), cho rằng vụ thử tên lửa phá hủy vệ tinh của Trung Quốc không ảnh hưởng tới thế cân bằng chiến lược toàn cầu, song có thể “châm ngòi” cho “cuộc chiến tranh giữa các vì sao” mới.

Đăng trong Tin thế giới | Tagged: | Leave a Comment »

Tên lửa đẩy của Trung Quốc đã có một động cơ mới

Đăng bởi Hoàng Phong on Tháng Tư 27, 2008

Trung Quốc đã thử nghiệm thành công một động cơ cho tên lửa đẩy thế hệ mới, có thể được sử dụng cho các chuyến bay vũ trụ có người lái và các chuyến bay thám hiểm mặt trăng trong tương lai.
Một phát ngôn viên của Tập đoàn Khoa học và Công nghệ Vũ trụ Trung Quốc nói rằng thử nghiệm trên đã hoàn toàn thành công. Tất cả các chỉ số của động cơ đều ở mức độ trung bình trong suốt quá trình chạy thử 120 tấn khí ôxy lỏng và động cơ đốt bằng dầu lửa.
Với một lực đẩy tối đa 120 tấn, động cơ sẽ mạnh gấp 3 lần các thiết bị đẩy tên lửa Tường Chinh hiện tại của Trung Quốc. Thiết bị đẩy tên lửa mới này không độc hại, không ô nhiễm môi trường và sẽ cho phép Trung Quốc đưa các vệ tinh nhân tạo và các dụng cụ thám hiểm Mặt trăng nặng hơn vào quỹ đạo.
Thử nghiệm thành công động cơ là một bước quan trọng trong chương trình nghiên cứu và phát triển tên lửa đẩy thế hệ mới của Trung Quốc.
Hội đồng Khoa học, Công nghệ và Công nghiệp Quốc phòng Trung Quốc đã thông báo trong năm nay, chính quyền trung ương sẽ triển khai chương trình phát triển tên lửa đẩy thế hệ mới.
Ông Long Lehao, kỹ sư trưởng của công ty tên lửa đẩy Trường Chinh nói rằng chương trình phát triển tên lửa mới là then chốt của các chương trình vũ trụ tương lai của Trung Quốc, kể cả việc đưa một phái đoàn có người lái tới mặt trăng. Tên lửa đẩy (launch vehicle) hiện tại của Trung Quốc không đủ mạnh để đưa các nhà du hành vũ trụ tới mặt trăng.
Chương trình nghiên cứu và phát triển động cơ, nếu được triển khai có kế hoạch, sẽ giúp Trung Quốc đuổi kịp các nước phát triển trong lĩnh vực tên lửa đẩy và cải tiến mũi nhọn cạnh tranh trên thị trường thương mại thiết bị tên lửa quốc tế.
Châu Âu, Nhật và Mỹ được trông đợi cung cấp các dịch vụ tên lửa sớm với các tên lửa đẩy thế hệ tiếp theo không độc hại môi trường, sử dụng dễ dàng, mạnh, độ chắc chắn cao và khả năng triển khai mạnh.
Trong năm tới, Trung Quốc sẽ phóng vệ tinh nhân tạo vào quỹ đạo mặt trăng trong khoảng một năm để thu những hình ảnh không gian 3 chiều về bề mặt mặt trăng. Ngân sách để thực hiện kế hoạch này là 1,4 tỷ Nhân Dân tệ (khoảng 170 triệu USD). Đây là một phần của chương trình nhằm mục đích cuối cùng là đặt một phương tiện không người lái lên Mặt trăng vào năm 2010.
Năm 2003, Trung Quốc đã đưa nhà du hành Yang Liwei vào Vũ trụ, trở thành nước thứ 3 sau Nga và Mỹ về khả năng đưa con người bay vào Vũ trụ một cách độc lập.
Nguồn: Xinhua News Agency, 11/7/2006

Đăng trong Tin thế giới | Tagged: | Leave a Comment »